Đại đoàn kết toàn dân tộc - Nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới
31/07/2026 15:30
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
1. Đại đoàn kết toàn dân tộc – tư tưởng xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của cách mạng Việt Nam.
Ngay từ khi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng muốn giành độc lập, xây dựng đất nước và bảo vệ thành quả cách mạng thì phải tập hợp được sức mạnh của toàn dân.
Người cho rằng cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Mọi lực lượng trong xã hội, nếu có lòng yêu nước, có tinh thần trách nhiệm với dân tộc đều có thể trở thành một phần của khối đại đoàn kết.
Tư tưởng ấy thể hiện một quan điểm sâu sắc: không có sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh của Nhân dân khi được tập hợp, tổ chức và phát huy đúng hướng.
Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự thống nhất về mục tiêu, mà còn là sự bao dung, tôn trọng, phát huy những điểm chung, cùng hướng tới lợi ích của quốc gia, dân tộc.
2. Đại đoàn kết toàn dân tộc – đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam
Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng.
Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng luôn nhất quán quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; mọi chủ trương, đường lối đều hướng tới mục tiêu phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, xây dựng một xã hội phát triển, dân chủ, công bằng, văn minh.

Toàn dân đoàn kết vững bước dưới cờ vinh quan (Nguồn: Báo Quân khu 4)
Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là sự tập hợp lực lượng trong những thời điểm khó khăn, mà còn là phương thức để huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước. Đó là sự đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng miền, giữa đồng bào các dân tộc, giữa người Việt Nam trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài; là sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.
Trong giai đoạn đổi mới, Đảng xác định phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, chăm lo lợi ích chính đáng của Nhân dân chính là nền tảng quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết.
Bởi vậy, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng chính là quá trình xây dựng niềm tin, tạo sự đồng thuận và phát huy trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự nghiệp chung của đất nước.
3. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong giai đoạn phát triển mới
Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ lớn nhưng cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Quá trình hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, phát triển khoa học – công nghệ, bảo đảm an ninh năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu… đòi hỏi phải huy động cao nhất trí tuệ, nguồn lực và tinh thần trách nhiệm của toàn xã hội.
Trong bối cảnh đó, đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn lực nội sinh quan trọng, tạo nên sức mạnh để đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Đoàn kết trong giai đoạn mới không chỉ là cùng nhau vượt qua khó khăn, mà còn là cùng nhau sáng tạo, cùng nhau phát triển, cùng chung tay xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân đều có vai trò trong việc vun đắp khối đoàn kết chung. Từ những việc làm nhỏ nhất, nếu được thực hiện bằng tinh thần trách nhiệm và ý thức cộng đồng, sẽ góp phần tạo nên những giá trị lớn lao cho xã hội.
4. Ý nghĩa của đại đoàn kết đối với người đảng viên trong ngành Điện Việt Nam
Đối với ngành Điện Việt Nam – một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng gắn bó trực tiếp với đời sống Nhân dân và sự phát triển của đất nước – tinh thần đoàn kết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Một hệ thống điện quốc gia vận hành an toàn, ổn định là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều thế hệ cán bộ, kỹ sư, công nhân lao động; giữa các đơn vị trong ngành; giữa ngành Điện với các địa phương và khách hàng sử dụng điện.
Đối với người đảng viên ngành Điện, phát huy tinh thần đại đoàn kết trước hết là xây dựng tập thể đoàn kết, kỷ luật, trách nhiệm; là chủ động phối hợp trong công việc; là đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân; là tận tâm thực hiện nhiệm vụ được giao.
Mỗi người lao động ngành Điện cần nhận thức rằng: phía sau mỗi công việc chuyên môn không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là trách nhiệm phục vụ xã hội; phía sau mỗi dòng điện được duy trì liên tục là sự tin tưởng của Nhân dân và sự phát triển của đất nước.
II. SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI XI, XII, XIII VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẠI HỘI XIV
1. Đại đoàn kết toàn dân tộc trong tư duy phát triển của Đảng từ Đại hội XI
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Đại hội tiếp tục khẳng định phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo động lực cho sự phát triển đất nước.
Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống từ ngàn đời nay. Đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tồn tại và phát triển là quy luật và truyền thống quý báu của đồng bào ta. Đảng cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác dân tộc là nhiệm vụ chiến lược của Đảng. Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác định, đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước ta.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng là mọi đường lối, chính sách phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và dựa vào Nhân dân để xây dựng đất nước.
Tinh thần đó thể hiện bước phát triển trong nhận thức của Đảng: đại đoàn kết không chỉ nhằm tập hợp lực lượng, mà còn nhằm phát huy vai trò chủ thể, sức sáng tạo và trách nhiệm của Nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước.
2. Đại hội XII: Củng cố niềm tin, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân
Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.
Trong giai đoạn này, Đảng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, uy tín.
Bởi thực tiễn cho thấy, niềm tin của Nhân dân là nền tảng quan trọng của đoàn kết xã hội. Khi cán bộ, đảng viên thực sự gương mẫu, gần dân, hiểu dân, trọng dân và phục vụ Nhân dân, mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân ngày càng được củng cố.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới: không chỉ hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, mà còn phải trở thành những nhân tố tích cực góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội.
3. Đại hội XIII: Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước và phát huy sức mạnh con người Việt Nam
Đại hội XIII của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy về phát triển đất nước, trong đó nhấn mạnh việc phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Trong quan điểm của Đảng, Nhân dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của quá trình phát triển. Mọi thành quả phát triển phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn này được nhìn nhận rộng hơn: đó là sự kết nối giữa ý chí, trí tuệ, khát vọng và hành động của toàn xã hội.
Sức mạnh đoàn kết không chỉ giúp đất nước vượt qua khó khăn, mà còn tạo động lực để Việt Nam vươn lên trong quá trình hội nhập và phát triển.
4. Định hướng phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới
Trong giai đoạn hướng tới những mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước, yêu cầu đặt ra là tiếp tục củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận, phát huy dân chủ và huy động mọi nguồn lực trong Nhân dân.
Đổi mới mô hình quản trị quốc gia, xây dựng chính quyền hiện đại, tinh gọn, hiệu quả cần đi đôi với việc bảo đảm sự tham gia, giám sát và đồng hành của Nhân dân.
Đại đoàn kết toàn dân tộc vì vậy tiếp tục là nền tảng quan trọng để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển trong thời kỳ mới.
5. Vai trò, yêu cầu phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và giai đoạn phát triển mới
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nguồn lực nội sinh quan trọng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước.
Thực tiễn cho thấy, trong bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng Việt Nam, sự đồng thuận xã hội và sự tham gia của Nhân dân luôn là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ tạo nên sức mạnh vượt qua khó khăn, thách thức, mà còn là động lực để khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy trí tuệ, sức sáng tạo và nguồn lực của toàn xã hội.
Trong giai đoạn sau Đại hội XIV, việc phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc cần được triển khai trên những định hướng lớn:
Thứ nhất, tiếp tục khẳng định Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Mọi chủ trương, chính sách cần hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ, phát huy vai trò tham gia, giám sát và đóng góp ý kiến của Nhân dân trong quá trình phát triển đất nước.
Thứ hai, tăng cường xây dựng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.
Niềm tin là nền tảng của đoàn kết. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, gần dân, hiểu dân, trọng dân, lắng nghe dân và thực sự phục vụ Nhân dân.
Thứ ba, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, vận động Nhân dân.
Mặt trận và các tổ chức thành viên cần tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; góp phần tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện các chủ trương lớn.
Thứ tư, gắn đại đoàn kết toàn dân tộc với phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế đất nước.
Trong bối cảnh mới, đoàn kết không chỉ là sự đồng lòng về ý chí, mà còn là sự chung sức trong đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng.
Thứ năm, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là trong các cơ quan, đơn vị trực tiếp phục vụ Nhân dân.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải trở thành một nhân tố tích cực xây dựng đoàn kết nội bộ, lan tỏa tinh thần trách nhiệm, kỷ luật, tận tụy và văn hóa phục vụ.
Đối với ngành Điện Việt Nam, việc triển khai tinh thần đại đoàn kết trong giai đoạn mới cần được cụ thể hóa bằng việc xây dựng tập thể đoàn kết, đổi mới sáng tạo, bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định, đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ tốt hơn nhu cầu của Nhân dân.
III. ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI TỔ CHỨC BỘ MÁY, SẮP XẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH VÀ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP
1. Đổi mới tổ chức bộ máy – yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển đất nước
Trong quá trình phát triển đất nước, việc thường xuyên đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong tình hình mới.
Chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả thể hiện quyết tâm chính trị lớn của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, gần dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn.
Tuy nhiên, mọi sự đổi mới chỉ có thể thành công khi nhận được sự đồng thuận, ủng hộ và tham gia tích cực của Nhân dân. Đây chính là biểu hiện sinh động của việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới.
Đại đoàn kết không chỉ được thể hiện trong những thời điểm lịch sử đặc biệt, mà còn hiện hữu trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước; khi mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng hướng tới mục tiêu chung vì sự phát triển của đất nước.
2. Đồng thuận xã hội – nền tảng quan trọng để thực hiện thành công các chủ trương lớn
Mỗi quyết sách quan trọng trong quá trình phát triển đất nước đều cần có sự đồng thuận xã hội. Đồng thuận không có nghĩa là không có sự khác biệt trong suy nghĩ, mà là sự thống nhất về mục tiêu chung, cùng trao đổi, cùng chia sẻ và cùng hành động vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, điều quan trọng là phải bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân; lắng nghe ý kiến từ cơ sở; phát huy vai trò giám sát, tham gia của người dân.
Khi người dân hiểu rõ mục tiêu, ý nghĩa của chủ trương; khi cán bộ gần dân, lắng nghe dân và giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn, sự đồng thuận sẽ trở thành nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình đổi mới.
Bài học lớn từ thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy: mọi chủ trương đúng đắn khi được Nhân dân đồng tình, ủng hộ và chung sức thực hiện sẽ tạo nên sức mạnh to lớn.
3. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân; phát huy dân chủ; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Trong bối cảnh mới, vai trò của Mặt trận Tổ quốc càng cần được phát huy mạnh mẽ hơn, nhất là trong việc:
Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.
Tham gia giám sát, phản biện xã hội.
Góp phần củng cố niềm tin và tăng cường sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Một xã hội phát triển bền vững không chỉ dựa trên những thành tựu kinh tế, mà còn dựa trên sự đoàn kết, tin tưởng và trách nhiệm của các thành viên trong cộng đồng.
4. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội
Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, là địa phương có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trải qua chiều dài lịch sử, Thủ đô luôn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa, trí tuệ, truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết của Nhân dân cả nước.
Trong quá trình phát triển hiện nay, Hà Nội đang đứng trước nhiều yêu cầu mới: xây dựng đô thị văn minh, hiện đại; phát triển kinh tế gắn với bảo tồn giá trị văn hóa; nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân; xây dựng chính quyền phục vụ.
Những mục tiêu đó đòi hỏi sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân Thủ đô.
Mỗi người dân Hà Nội, bằng trách nhiệm của mình trong công việc và cuộc sống, đều có thể đóng góp vào quá trình xây dựng hình ảnh một Thủ đô đoàn kết, văn minh, sáng tạo và phát triển.
5. Bài học về đoàn kết từ thực tiễn ngành Điện Việt Nam
Ngành Điện Việt Nam là một lĩnh vực có tính liên kết cao, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cấp, nhiều đơn vị, nhiều lực lượng lao động.
Từ công tác đầu tư xây dựng nguồn điện, quản lý vận hành hệ thống điện, truyền tải, phân phối đến chăm sóc khách hàng, mỗi nhiệm vụ đều cần sự phối hợp đồng bộ và tinh thần trách nhiệm của tập thể.
Thực tiễn cho thấy, những thành tựu của ngành Điện không đến từ nỗ lực của riêng một cá nhân hay một đơn vị, mà là kết quả của sự đoàn kết, sáng tạo và cống hiến của nhiều thế hệ cán bộ, công nhân viên.
Trong những thời điểm khó khăn như thiên tai, sự cố kỹ thuật hoặc nhu cầu sử dụng điện tăng cao, tinh thần đoàn kết càng được thể hiện rõ nét qua sự nỗ lực không kể ngày đêm của những người lao động ngành Điện nhằm bảo đảm dòng điện phục vụ Nhân dân.
Đó chính là một biểu hiện cụ thể của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trong đời sống hiện đại: mỗi người một nhiệm vụ, nhưng cùng chung mục tiêu phục vụ đất nước và Nhân dân.
IV. PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TỪ THỰC TIỄN THỦ ĐÔ HÀ NỘI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN TRONG NGÀNH ĐIỆN VIỆT NAM
1. Hà Nội – nơi hội tụ và lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, văn hóa, chính trị và tinh thần của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng nghìn năm xây dựng và phát triển, Hà Nội luôn là biểu tượng của truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và tinh thần đoàn kết.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, Nhân dân Thủ đô luôn phát huy vai trò chủ thể, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những phong trào thi đua yêu nước, những hoạt động vì cộng đồng, đến sự chung sức trong phát triển kinh tế - xã hội, hình ảnh người Hà Nội luôn gắn với tinh thần trách nhiệm, văn minh và nghĩa tình.
Trong giai đoạn phát triển mới, khi Hà Nội đang hướng tới mục tiêu trở thành đô thị thông minh, hiện đại, xanh, bền vững, sức mạnh đại đoàn kết tiếp tục là yếu tố quan trọng. Mọi thành công của Thủ đô đều cần sự tham gia tích cực của người dân, sự phối hợp của các cấp, các ngành và sự đồng lòng của toàn xã hội.
Đại đoàn kết vì vậy không chỉ là một giá trị truyền thống, mà còn là nguồn động lực để Hà Nội phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, xứng đáng với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước.
2. Đại đoàn kết được thể hiện từ những việc làm bình dị trong cuộc sống hằng ngày
Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ thể hiện trong những sự kiện lớn, mà còn được tạo nên từ những hành động bình dị trong cuộc sống thường ngày.
Đó là tinh thần giúp đỡ, chia sẻ giữa những người hàng xóm; là sự phối hợp giữa đồng nghiệp trong cơ quan; là trách nhiệm của mỗi công dân trong việc chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, xây dựng cộng đồng văn minh.
Trong môi trường công tác, đoàn kết là nền tảng để xây dựng tập thể vững mạnh. Một cơ quan, đơn vị muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ cần có sự thống nhất trong nhận thức, sự phối hợp trong hành động và sự tin tưởng giữa các thành viên.
Đối với người đảng viên, tinh thần đoàn kết còn gắn với trách nhiệm nêu gương. Người đảng viên không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân, mà còn phải góp phần xây dựng môi trường làm việc tích cực, lan tỏa tinh thần trách nhiệm và củng cố niềm tin của quần chúng.
3. Ngành Điện Việt Nam – minh chứng sinh động về sức mạnh của tinh thần đoàn kết
Ngành Điện Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Điện năng là yếu tố thiết yếu phục vụ sản xuất, kinh doanh, đời sống Nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để bảo đảm hệ thống điện quốc gia vận hành an toàn, liên tục, ổn định, cần sự phối hợp của nhiều lực lượng: từ đội ngũ quản lý, kỹ sư, công nhân kỹ thuật đến các đơn vị vận hành, dịch vụ khách hàng và các cơ quan quản lý nhà nước, địa phương.
Mỗi thành quả của ngành Điện đều chứa đựng tinh thần đoàn kết của nhiều thế hệ người lao động.
Đặc biệt, trong những thời điểm khó khăn như thiên tai, thời tiết cực đoan, nhu cầu sử dụng điện tăng cao hoặc những nhiệm vụ cấp bách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, tinh thần “đồng sức, đồng lòng” của người lao động ngành Điện càng được thể hiện rõ nét.
Có thể nói, mỗi dòng điện đến với người dân hôm nay là kết quả của sự nỗ lực, trách nhiệm và đoàn kết của cả một tập thể lớn.
4. Trách nhiệm của người đảng viên trong ngành Điện Việt Nam
Là người đảng viên công tác trong ngành Điện, bản thân tôi nhận thức sâu sắc rằng việc phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc trước hết bắt đầu từ chính thái độ và hành động trong công việc hằng ngày.
Đó là việc không ngừng học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn; giữ gìn phẩm chất đạo đức của người đảng viên; đoàn kết, phối hợp với đồng chí, đồng nghiệp để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Đó cũng là việc luôn đặt lợi ích chung của tập thể, của đơn vị và của Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; chủ động chia sẻ, hỗ trợ đồng nghiệp; xây dựng môi trường làm việc trách nhiệm, kỷ cương, nhân văn.
Trong ngành Điện, tinh thần phục vụ Nhân dân được thể hiện qua từng nhiệm vụ cụ thể: bảo đảm vận hành an toàn hệ thống điện, nâng cao chất lượng dịch vụ, giải quyết công việc với thái độ tận tâm, chuyên nghiệp.
Mỗi cán bộ, đảng viên ngành Điện cần hiểu rằng: làm tốt nhiệm vụ chuyên môn cũng chính là một cách thiết thực để góp phần xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và những người đang trực tiếp phục vụ xã hội.
V. GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
1. Tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc
Trong giai đoạn phát triển mới, cần tiếp tục tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân nhận thức sâu sắc rằng đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh quan trọng nhất của đất nước.
Đoàn kết không chỉ là khẩu hiệu, mà phải được cụ thể hóa bằng hành động; từ cách ứng xử trong cộng đồng đến tinh thần trách nhiệm trong công việc.
2. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gần dân, trọng dân, hiểu dân và phục vụ Nhân dân
Cán bộ, đảng viên là lực lượng quan trọng trong việc xây dựng và củng cố niềm tin xã hội.
Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; luôn gần gũi, lắng nghe và tôn trọng Nhân dân.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là tấm gương trong công việc, trong lối sống và trong tinh thần phục vụ. Cần phát huy tốt hơn nữa vai trò tập hợp, vận động, lắng nghe ý kiến Nhân dân; góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Gắn phát huy đại đoàn kết với phát triển đất nước nhanh, bền vững
Trong thời kỳ mới, phát huy đại đoàn kết cần gắn với việc huy động mọi nguồn lực, phát huy trí tuệ, sáng tạo của Nhân dân.
Mỗi ngành, mỗi cơ quan, mỗi cá nhân đều có thể đóng góp vào sự phát triển chung bằng chính trách nhiệm trong vị trí công tác của mình.
Đối với ngành Điện, đó là tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ, bảo đảm an ninh năng lượng, đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
4. Trách nhiệm của bản thân trong việc góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Từ nhận thức về vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc, bản thân tôi xác định cần tiếp tục nỗ lực rèn luyện, học tập, nâng cao trách nhiệm của người đảng viên; giữ gìn tinh thần đoàn kết trong tập thể; tận tâm với công việc và luôn ý thức cao hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Tôi tin rằng, mỗi việc làm tốt, dù nhỏ bé, nếu được thực hiện bằng tinh thần trách nhiệm và sự chân thành, đều góp phần tạo nên những giá trị lớn lao cho cộng đồng và xã hội.
KẾT LUẬN
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là nguồn sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến đường lối lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ, đại đoàn kết luôn được khẳng định là nhân tố có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới với nhiều yêu cầu mới, việc củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết càng có ý nghĩa quan trọng.
Đại đoàn kết không chỉ nằm trong những chủ trương lớn, mà được thể hiện qua từng hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân.
Là một đảng viên công tác trong ngành Điện Việt Nam, tôi nhận thức rằng đóng góp cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc chính là làm tốt công việc của mình, đoàn kết với đồng chí, đồng nghiệp, tận tâm phục vụ khách hàng và không ngừng nỗ lực vì sự phát triển chung của đất nước.
Nếu dòng điện mang ánh sáng đến mọi miền Tổ quốc, thì tinh thần đoàn kết chính là nguồn năng lượng tinh thần tạo nên sức mạnh Việt Nam.
Với niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh của Nhân dân và truyền thống đoàn kết của dân tộc, mỗi chúng ta sẽ tiếp tục chung sức, đồng lòng xây dựng một Việt Nam phát triển, phồn vinh, hạnh phúc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc – nguồn sức mạnh của hôm nay và niềm tin cho tương lai.
B.TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Các văn bản của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
6. Các tài liệu giới thiệu, báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam về vai trò của ngành Điện trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phục vụ Nhân dân.
7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Bạch Kiều Vân - Công ty Dịch vụ Điện lực miền Bắc