Check icon

Success

Your request has been successfully submitted.

Tổng đài: 19006769

Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc

1. Quan điểm Đại đoàn kết gắn chặt với vấn đề tôn giáo.

Kế thừa những quan niệm đúng đắn của các nhà triết học duy vật đi trước, Mác-Ăngghen đã vạch ra một cách khoa học nguồn gốc, bản chất, tính chất và vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội gắn với Đại đoàn kết toàn dân tộc. Để lý giải được điều quan trọng cho Đại đoàn kết thì mấu chốt là vấn đề tôn giáo phải được hiểu và làm rõ. 

Khi bàn về vai trò của Đại đoàn kết không thể tách rời tôn giáo trong đời sống xã hội, Mác-Ăngghen cho rằng, sự ra đời của tôn giáo một mặt là sự phản ánh hiện thực khách quan, mặt khác nó còn là sự phản kháng xã hội hiện thực với quá nhiều bất công, đau khổ. Mác-Ăngghen, khi bàn đến vai trò của tôn giáo, cũng đã lưu ý đến khía cạnh tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, nhu cầu của sự phát triển xã hội trong những thời kỳ lịch sử nhất định.

Trên lập trường duy vật vô thần triệt để, chủ nghĩa Mác-Lênin dù có thừa nhận những giá trị tích cực nhất định của tôn giáo, song vẫn phê phán nó, vì xét cho cùng, tôn giáo vẫn hướng con người vào một thế giới ảo tưởng, an ủi họ quên nỗi đau khổ ở cuộc sống hiện thực và hứa hẹn sự đền bù cho họ ở một thế giới siêu nhiên. Trong khi đó, để khắc phục những khổ đau ở cuộc sống trần thế, con người cần phải có phương tiện hiện thực, có nghị lực, dũng cảm sáng tạo vượt qua trong xã hội hiện thực. Ăngghen đã chỉ ra điểm khác nhau căn bản giữa đạo Cơ Đốc và chủ nghĩa xã hội, đó là: “Đạo Cơ Đốc tìm sự giải thoát ấy trong cuộc sống trên trời, ở thế giới bên kia sau khi chết, còn chủ nghĩa xã hội thì tìm nó ở thế giới bên này, ở việc tổ chức lại xã hội”.

Theo Mác-Ăngghen, sự phản kháng của tôn giáo về cơ bản vẫn mang tính tiêu cực, thụ động, nó khuyên con người chấp nhận hiện thực để mỗi người tự hoàn thiện mình, tách khỏi mọi mối quan hệ của xã hội hiện thực.

Tiếp tục quan điểm của Mác-Ăngghen, VI.Lênin bổ sung, phát triển, hoàn thiện thêm và chỉ ra vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, về cơ bản, là tác động tiêu cực. Tôn giáo dạy cho con người chịu đựng những đau khổ để chờ đợi những điều tốt đẹp ảo tưởng, không có thực: “Những điều thiêng liêng của đạo chính thống quý báu là ở chỗ nó dạy người ta chịu đựng đau khổ “không một tiếng kêu ca”! Thực tế, điều thiêng liêng đó có lợi cho giai cấp thống trị biết chừng nào!…tôn giáo dạy người ta chịu đựng “không một tiếng kêu ca” cái địa ngục trần gian để chờ đợi một thiên đường nào đấy”.

Lênin cho rằng, một mặt tôn giáo đem lại cho con người sự an ủi mơ hồ, răn dạy họ nhẫn nhục trong cuộc sống thực để hy vọng được đền bù ở cõi sống khác, mặt khác tôn giáo là sự biện hộ cho các thế lực bóc lột và khuyên những người bị bóc lột hãy cam chịu cuộc sống hiện tại. Người viết: “Đối với những ai suốt đời vẫn lao động và sống trong cảnh thiếu thốn, tôn giáo dạy họ phải sống theo tinh thần cam chịu và nhẫn nhục trong cuộc sống dưới trần gian, bằng cách làm cho họ hy vọng sẽ được đền đáp khi lên thiên đường. Còn đối với những kẻ sống bằng lao động của người khác, tôn giáo dạy họ hãy làm điều thiện ở thế gian, biện hộ một cách rẻ tiền cho toàn bộ cuộc đời bóc lột của chúng, và bán rẻ cho chúng những tấm thẻ để lên thiên đường của những người hạnh phúc”.

Lênin đã chỉ ra rằng, khi tôn giáo bị giai cấp tư sản lợi dụng làm công cụ chính trị thì nó trở thành “thứ rượu tinh thần, làm cho những người nô lệ của tư bản mất phẩm cách con người và quên mất hết những điều họ đòi hỏi để được sống một cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người”.

Tôn giáo được Lênin xem xét gắn liền với thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước Nga và châu Âu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Chính vì vậy, Lênin nói đến vai trò tiêu cực của tôn giáo và giáo hội cũng trong một tình huống rất cụ thể: tôn giáo và giáo hội tôn giáo bị giai cấp tư sản lợi dụng làm công cụ để bảo vệ chế độ bóc lột, đầu độc quần chúng bị áp bức. Lúc này, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đã trở nên gay gắt và trong xã hội đó, “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng cô độc”.

Do điều kiện và yêu cầu của cách mạng đương thời, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khác như văn hóa, tâm lý, tình cảm, đạo đức... của tôn giáo. Do đó, các ông rất ít đề cập đến vai trò tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội. Đây là một trong những vấn đề đòi hỏi các đảng cộng sản và giai cấp công nhân cần phải tiếp tục vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin đi sâu tìm hiểu tôn giáo từ nhiều góc độ khác nhau để có cách nhìn khách quan, khoa học về hiện tượng xã hội này.

Hồ Chí Minh là tấm gương sáng trong vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo vào thực tế. Người không chỉ nhìn tôn giáo dưới góc độ chính trị, ý thức hệ, mà Người đã phát hiện và chỉ ra những giá trị văn hóa, đạo đức tích cực của tôn giáo. Nhận thức sâu sắc vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, bao hàm cả hai mặt tích cực và mặt tiêu cực, Hồ Chí Minh luôn tìm cách khai thác, phát huy các giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo để phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đồng thời đấu tranh khắc phục những tiêu cực.

Hồ Chí Minh đấu tranh với các thế lực lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị. Bởi Người nhận thức được rất rõ ràng rằng, trong một quốc gia đa tôn giáo, khi mà nhiệm vụ giải phóng dân tộc đang được đặt lên hàng đầu thì việc tập hợp sức mạnh của toàn dân không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề sống còn của cách mạng. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ việc phê phán, đấu tranh một cách trực diện với giáo lý tôn giáo sẽ không có lợi cho việc đoàn kết toàn dân. Cách làm của Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh đều đúng trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Điều đó càng thể hiện rõ, Hồ Chí Minh đã rất thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm đó vào điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam.  

Tuy nhiên, trong lịch sử Việt Nam hiện đại, đã từng có một thời kỳ, do siêu hình, máy móc,  chúng ta đã có những ứng xử không phù hợp với tôn giáo, vai trò tích cực của tôn giáo đã không được phát huy trong đời sống xã hội, hơn thế nữa còn gây nên nhiều hiểu lầm, tiêu cực trong đồng bào có đạo, làm giảm niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Với tinh thần mạnh dạn đổi mới, khắc phục những hạn chế, sai lầm trong nhận thức trước đây, Đảng ta, lần đầu tiên trong Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính ngày 16-10-1990 đã khẳng định: Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới… Có thể coi đây là bước đột phá, khởi đầu trong việc đổi mới nhận thức về vấn đề tôn giáo của Đảng ta, bởi luận điểm này là cơ sở lý luận quan trọng để hạn chế các biểu hiện sai sầm trong nhận thức và ứng xử với tôn giáo, làm cho chính sách của Nhà nước về tôn giáo ngày càng đúng đắn và được đông đảo đồng bào có đạo đồng tình, ủng hộ.

Đó là sự trở lại với quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã bổ sung thêm những nghiên cứu về vai trò của tôn giáo mà trước đây các nhà kinh điển Mác-Lênin chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu.

Qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX , X và XI và XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, tinh thần đổi mới nhận thức về vấn đề tôn giáo, Đại đoàn kết vẫn liên tục được phát triển và hoàn thiện thêm.

Khi thừa nhận tín ngưỡng, tôn giáo và hướng tới Đoàn kết là hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài, Đảng ta ý thức được rằng, tôn giáo vẫn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Tôn giáo vẫn phát huy ảnh hưởng của nó trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Trong trường hợp này, thái độ đúng đắn nhất, biện chứng nhất là khuyến khích phát huy các yếu tố tích cực của tôn giáo, làm cho các yếu tố này thực sự có ý nghĩa khi tham gia vào quá trình phát triển, hoàn thiện con người và xã hội Việt Nam hiện đại. Do vậy, cũng trên tinh thần đổi mới nhận thức về vấn đề tôn giáo, Đảng ta không chỉ thừa nhận những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp trong các tôn giáo mà còn luôn khuyến khích phát huy những giá trị đó trong việc xây dựng xã hội mới. Chỉ thị 37/CT-TWcủa Bộ Chính trị ngày 2-7-1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới đã khẳng định “Những hoạt động tôn giáo ích nước lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tín đồ được đảm bảo. Những giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy”.

Nhận thức đúng vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội và những đóng góp của nó cho nền văn hóa, đạo đức của dân tộc, Đảng ta, trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, về việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã chủ trương “Khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện... trong tôn giáo”. Chủ trương này tiếp tục được khẳng định và phát triển thêm qua các kỳ Đại hội IX, X, XI. Đại hội XI khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước; tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Tuy nhiên, Đảng ta cũng nhận thức rõ, bên cạnh vai trò tích cực, tôn giáo còn chứa đựng và tiềm ẩn trong nó nhiều mặt tiêu cực có thể gây nên những tác động xấu đối với đời sống chính trị, xã hội, đó là vấn đề mê tín, dị đoan được đan xen, dung dưỡng trong sinh hoạt tôn giáo và đặc biệt là vấn đề lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị... Vì vậy, bên cạnh việc thừa nhận và khuyến khích phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tích cực trong tôn giáo, Đảng ta cũng kiên quyết đấu tranh “tuyên truyền giáo dục khắc phục tệ mê tín dị đoan; chống việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng thực hiện ý đồ chính trị xấu”.

Hội nghị Trung ương 7 khóa IX khẳng định: “Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Đại hội XI tiếp tục khẳng định chủ trương: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”.

Như vậy, kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và dựa trên đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Đảng ta đã nhìn nhận vấn đề tôn giáo với tư duy mới và nhờ đó đã đưa lại những cách làm mới trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam. Điều đó chứng tỏ nhận thức của Đảng ta về vấn đề tôn giáo có sự vận động, phát triển rõ nét, đồng thời nó cũng chứng tỏ bản lĩnh và sự trưởng thành vượt bậc của Đảng ta. Sự đổi mới nhận thức của Đảng ta về vấn đề tôn giáo nói chung, về vai trò của tôn giáo nói riêng hoàn toàn không xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo. Hơn nữa, sự đổi mới nhận thức này còn là sự tiếp tục những công việc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đương thời đã từng trăn trở, đó là cần phải bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác và củng cố chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông.

Từ nhận thức đúng đắn về nhu cầu tôn giáo của quần chúng, về vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tín ngưỡng chân chính của đồng bào có đạo. Đảng, Nhà nước cũng luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các tôn giáo phát huy giá trị nhân văn, nhân bản của tôn giáo trong xây dựng cuộc sống; động viên đồng bào các tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”; đồng thời cũng kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo, phá hoại khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

2.Thực trạng hoạt động tôn giáo với Đại đoàn kết trong phong trào thi đua yêu nước hiện nay 

Trong thời gian qua, các tôn giáo ở Việt Nam đã tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động và các hoạt động từ thiện xã hội, gắn với Đại đoàn kết…, qua đó góp phần quan trọng vào công việc chung của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam cho biết: Từ trước 2020 Nhà nước ta đã công nhận 41 tổ chức thuộc 14 tôn giáo với  hơn 22,1 triệu tín đồ các tôn giáo, trong đó Phật giáo có hơn 10 triệu tín đồ, Công giáo có trên 6 triệu tín đồ, Cao Đài với 2,3 triệu tín đồ (đã công nhận 10 hội thánh và 1 pháp môn), Phật giáo Hòa Hảo hơn 1,3 triệu tín đồ, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam khoảng 1,5 triệu tín đồ, Tin Lành có hơn 1 triệu tín đồ (đã công nhận 10 hội thánh)… 

Trong những năm qua, các tôn giáo trong cả nước đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tham gia thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động; sống “Tốt đời đẹp đạo” và tích cực tham gia phát triển cộng đồng thông qua các Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam… Các cuộc vận động này góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đúng như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo với dân tộc: Kính Chúa gắn liền với yêu nước, phụng sự Thiên Chúa và phụng sự Tổ quốc, nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do.

Bên cạnh đó, nhiều tổ chức tôn giáo còn triển khai các phong trào thi đua yêu nước mang đặc điểm riêng như: phong trào xây dựng “Chùa cảnh tinh tiến”, “Chùa cảnh văn hoá” trong Phật giáo, phong trào xây dựng “Xứ họ đạo tiên tiến, gia đình Công giáo gương mẫu”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, sống tốt đời đẹp đạo” trong đồng bào Công giáo; phong trào “Nồi cháo tình thương” giúp đỡ bệnh nhân nghèo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo…

Phát huy truyền thống đạo lý của dân tộc Việt Nam, đồng bào các tôn giáo luôn đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong việc thực hiện các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn"... tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo. Nhiều chức sắc, nhà tu hành, tín đồ đã có thành tích xuất sắc trong các phong trào: Xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, chăm sóc các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng…

Đáng chú ý, từ năm 2004, hằng năm, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đều phối hợp với MTTQ Việt Nam đưa hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vào chương trình hoạt động Phật sự. Năm 2012, Hội đồng Trị sự GHPGVN đã ban hành Thông tư số 65/TT-HĐTS hướng dẫn Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh, thành phố trong cả nước tham gia phối hợp với Ủy ban MTTQ các tỉnh, thành phố triển khai, nhân rộng mô hình “Sáng kiến lãnh đạo Phật giáo” tham gia phòng, chống HIV/AIDS. Hay năm 2014, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN và Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ký kết Chương trình phối hợp với Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia về vận động chức sắc, tu sĩ và phật tử, giáo dân tham gia bảo vệ trật tự an toàn giao thông.

Đặc biệt là trong năm 2014, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đã ban hành các Thông điệp, Tuyên bố, Lời kêu gọi, công văn... kêu gọi chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo mình và các tổ chức đồng đạo ở ngoài nước có hành động thiết thực tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, những năm qua, các tôn giáo còn tích cực tham gia phát triển cộng đồng thông qua việc xã hội hóa giáo dục, y tế và các hoạt động dạy nghề. Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam chủ trương phát huy vai trò của các tôn giáo tham gia xã hội hóa các hoạt động y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội, dạy nghề, phòng chống HIV/AIDS, bảo vệ môi trường...

Tính đến đầu năm 2015 đã có 39 tỉnh, thành phố có cơ sở giáo dục mầm non tư thục do cá nhân tôn giáo thành lập (trong đó 26 tỉnh, thành phố có quy mô trường). Cụ thể, cả nước có 269 trường mầm non, 905 nhóm, lớp mầm non độc lập do các cá nhân tôn giáo thành lập, chiếm 15,6% so với số trường mầm non ngoài công lập trên phạm vi toàn quốc. Các cơ sở giáo dục mầm non tư thục do cá nhân tôn giáo thành lập đã huy động 125.594 trẻ đến trường/lớp, chiếm 3,06% so với tổng số trẻ đến trường mầm non trên toàn quốc và chiếm 18,3% so với trẻ đến trường mầm non ngoài công lập. Hầu hết các cơ sở đều đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất, giáo viên, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ.

Cùng với đó, các tôn giáo còn tham gia tích cực vào việc xã hội hóa hoạt động y tế, đến nay, các tổ chức, cá nhân tôn giáo đã mở được 185 cơ sở khám chữa bệnh, trong đó có 143 cơ sở khám bệnh đông y hoặc đông tây y kết hợp; 42 cơ sở tây y. Tính riêng 3 năm từ 2011 đến 2014, đã có gần 1.432.000 lượt người được khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở khám, chữa bệnh nhân đạo của các tôn giáo. Các tôn giáo phối hợp tổ chức các đoàn khám chữa bệnh lưu động, phát thuốc miễn phí cho hơn 177 triệu lượt người nghèo.

Đối với các hoạt động bảo trợ xã hội, cả nước có 402 cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó có 233 cơ sở ngoài công lập thì đa số là của các tổ chức, cá nhân các tôn giáo. Hiện các cơ sở tôn giáo đang thực hiện việc quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng 41.000 đối tượng, trong đó có 11.365 trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi. 

Những kết quả nêu trên đã, đang và sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

3. Tôn giáo là trung tâm của Đại đoàn kết tại các địa phương điển hình như Nam đồng bằng Sông Hồng của tỉnh Ninh Bình.

Các tôn giáo, trong đó Phật giáo và Công giáo du nhập vào Việt Nam và tới khu vực Nam đồng bằng Sông Hồng khá sớm; Đây là quê hương của vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông, là điểm đầu tiên các nhà truyền giáo đạo Công giáo chọn để dừng chân (Giáo sử ghi nhận năm 1533 giáo sỹ Dòng Tên Inekhu đến bến Ninh Cường thuộc xã Trực Ninh và Trà Lũ thuộc xã Xuân Trường ngày nay, đặt cơ sở để thực hiện công cuộc truyền giáo vào Việt Nam). Quá trình phát triển lâu dài của các tôn giáo ở đây đã để lại những dấu ấn vô cùng đậm nét, có tính điển hình của cả nước về cơ sở vật chất, ý thức và niềm tin tôn giáo, số lượng chức sắc và tín đồ… đã đặt ra cho công tác tôn giáo nói chung và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo của tỉnh Ninh Bình những vấn đề khá phức tạp.

 Hiện nay trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có 3 tôn giáo được công nhận và hoạt động, đó là: Phật giáo, Công giáo và Tin lành. 

Những năm qua, trên địa bàn tỉnh đã phát động, duy trì nhiều phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào có đạo trên địa bàn, như phong trào xây dựng “Xứ, họ tiên tiến; gia đình Công giáo gương mẫu”; “Xây dựng Chùa tinh tiến”…Đây là các phong trào Mặt trận Ninh Bình xây dựng, phát động trên cơ sở vận dụng, cụ thể hóa Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Các phong trào đều có nội dung cụ thể, ý nghĩa thiết thực, động viên đồng bào đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa nghèo; xây dựng nếp sống văn hóa; giữ gìn an ninh trật tự, thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về Tôn giáo… Gần đây, thực hiện Cuộc vận động “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”,  Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh Ninh Bình đã xây dựng, phát động phong trào “Đẹp nhà cửa, đẹp ruộng đồng, đẹp xứ, họ”, qua đó động viên đồng bào công giáo trong tỉnh tích cực tham gia thực hiện hiện hiệu quả chủ trương lớn, quan trọng này…

Những năm qua, cùng với việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng đối với tôn giáo, công tác thực hiện chính sách của Đảng, nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo được tăng cường, các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường, thuần túy tôn giáo và tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động tôn giáo. Các ban, ngành chức năng, các cấp trong tỉnh thường xuyên phối hợp, thống nhất tham mưu cho thường trực cấp ủy, UBND chỉ đạo và giải quyết những vụ việc liên quan đến tôn giáo theo đúng chức năng của từng cấp, đạt hiệu quả cao. Sở Nội vụ ở cấp tỉnh, phòng Nội vụ ở cấp huyện, xã đã tham mưu xem xét, giải quyết các nhu cầu chính đáng của các tổ chức tôn giáo kịp thời, đúng pháp luật; tạo điều kiện để chức sắc, nhà tu hành và đồng bào tín đồ các tôn giáo thực hành, bầy tỏ niềm tin tôn giáo “sống tốt đời, đẹp đạo” ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, cùng với chính quyền và nhân dân toàn tỉnh xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các tôn giáo, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

4. Những mặt ưu khuyết của tôn giáo trong Đại đoàn kết dân tộc tại các khu vực Nam đồng bằng Sông Hồng của tỉnh Ninh Bình.

Ưu điểm :

Để có được những kết quả trên, trước hết cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp của tỉnh luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; đảm bảo quyền hoạt động, sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật của chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo. Cấp ủy, chính quyền các địa phương của tỉnh đã vận dụng tốt quan điểm, chính sách của Đảng đối với tôn giáo; lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành thực hiện các quy định của nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo kịp thời, chính xác, hiệu quả và phù hợp với thực tế của địa phương gắn liền với Đại đoàn kết.

Hạn chế:

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, tôn giáo vẫn còn những vấn đề nảy sinh tiêu cực trong đời sống chính trị - xã hội. Sự phát triển của đạo Tin lành với nhiều vấn đề phức tạp về chính trị - xã hội trong khu vực đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ Phật giáo với âm mưu phục hồi hoạt động của hệ phái giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất; vấn đề lợi dụng tôn giáo gắn với sắc tộc để kích động tư tưởng ly khai tự trị trong cộng đồng người HMông, người Chăm, người Khmer và trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên; những hoạt động khó quản lý của các hiện tượng tôn giáo mới, “đạo lạ” ở nhiều địa phương trên cả nước và gần đây nhất là những điểm nóng của Công giáo liên quan đến vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự… là những dấu hiệu cho thấy, nếu chúng ta không có được những chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời thì tôn giáo có thể sẽ có những tác động rất tiêu cực tới sự ổn định của xã hội mất đi sự gắn kết trong cộng đồng.

5. Giải pháp thực hiện để nâng cao Đại Đoàn kết khi tôn giáo chi phối ảnh hưởng.

Một là, tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng hệ thống chính trị vùng có đông đồng bào dân tộc, tôn giáo vững mạnh, tạo niềm tin của đồng bào đối với sự lãnh đạo của Đảng, thành công của sự nghiệp đổi mới. Quan tâm xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc, tôn giáo nói chung và quan tâm xây dựng cốt cán, người có uy tín trong đồng bào dân tộc, tôn giáo.

Hai là, tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, xem đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Công an, Quân đội, Mặt trận Tổ quốc, ban dân tộc, ban tôn giáo là lực lượng nòng cốt trong việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo, đồng thời là lực lượng trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong lao động sản xuất, vận động đồng bào tham gia thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tham gia phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự làm nòng cốt cho các phong trào ở địa phương.

Ba là, thường xuyên phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chủ trương của cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là các chủ trương, chính sách liên quan đến dân tộc, tôn giáo, đến đời sống, sản xuất và về quốc phòng, an ninh, phòng, chống tội phạm, về âm mưu, phương thức thủ đoạn của các thế lực thù địch... thông qua các hội nghị, các buổi gặp mặt nhân các ngày lễ, Tết nhằm nâng cao nhận thức cho đồng bào có đạo một cách rộng rãi.

Bốn là, tạo điều kiện cho người có chức sắc tôn giáo được tham gia góp ý xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tham gia các phong trào như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và các phong trào khác ở địa phương; trực tiếp tham gia công tác phòng ngừa, giải quyết những vụ tranh chấp, khiếu kiện, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân và những vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự; nắm tình hình, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, tôn giáo và cùng cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở vận động, tổ chức đồng bào tích cực thực hiện.

Năm là, phân công, bố trí cán bộ có năng lực, trình độ, hiểu biết về phong tục tập quán, về tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là hiểu tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc, phong cách gần gũi, gắn bó, tận tâm với nhiệm vụ, có kinh nghiệm, được đồng bào, các vị chức sắc, chức việc trong các tôn giáo tin cậy để làm công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc, tôn giáo.

6. Triển khai các văn bản của Ban Bí thư về công tác dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn mới

Ngày 14/4/2026 vừa qua, tại tỉnh Ninh Bình, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Công an, Tỉnh ủy Ninh Bình tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai các văn bản của Ban Bí thư về công tác dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn mới. Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; đại diện các Đảng ủy trực thuộc Trung ương; Thường trực Tỉnh ủy, Thành ủy các địa phương (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình) và đội ngũ Bí thư đảng ủy cấp xã.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nhấn mạnh: Công tác dân tộc và công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược, lâu dài, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định chính trị-xã hội và phát triển bền vững đất nước.

Ban Bí thư đã ban hành các Chỉ thị, Kết luận, Thông báo về một số chủ trương, nhiệm vụ tiếp tục thực hiện nhất quán, xuyên suốt quan điểm của Đảng về công tác dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới; khẳng định công tác dân tộc, tôn giáo là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn với phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, công tác dân tộc, tôn giáo đặt ra yêu cầu cao hơn về sự chủ động, trực tiếp và hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ngay từ cấp cơ sở; đòi hỏi cấp ủy, chính quyền phải tăng cường nắm tình hình, kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh, không để hình thành “điểm nóng”, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị-xã hội từ sớm, từ xa.

Thời gian qua, công tác dân tộc, tôn giáo đạt nhiều kết quả quan trọng; nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành được nâng lên; phương thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện có nhiều đổi mới, góp phần củng cố niềm tin của đồng bào, giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Về nhiệm vụ thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục quán triệt, triển khai hiệu quả các văn bản của Ban Bí thư gắn với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; bảo đảm thống nhất nhận thức và hành động với phương châm “đi trước mở đường, đi cùng thực hiện, đi sau tổng kết”; chuyển mạnh từ “quản lý hành chính” sang “đồng hành, hỗ trợ và phát triển”.

Đồng thời, tiếp tục đổi mới phương thức công tác theo hướng bám sát cơ sở, phát huy vai trò của cấp ủy và cán bộ cơ sở trong tổ chức thực hiện, lấy người dân làm trung tâm; gắn công tác dân tộc, tôn giáo với phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững ổn định chính trị.

C. KẾT LUẬN

Thực tế cho thấy Đại đoàn kết có được, khi vai trò tích cực của tôn giáo được thừa nhận và khuyến khích phát huy đã đem lại những hiệu quả thiết thực trong đời sống xã hội. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới đã được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo được niềm tin, sự phấn khởi lớn trong đồng bào có đạo. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được tăng cường, củng cố vững chắc hơn. Đồng bào có đạo trên khắp các vùng miền cả nước đã và đang tích cực hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước, sống tốt đời, đẹp đạo, hăng hái tham gia vào các phong trào phát triển kinh tế- xã hội, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Nhiều gia đình tín đồ tôn giáo từ nghèo đói triền miên đã vươn lên thoát nghèo. Nhiều vùng đồng bào có đạo từ nghèo đói đã trở nên giàu có và trở  thành điển hình của cả nước. Hàng chục vạn gia đình tín đồ, hàng ngàn làng, xã, khu dân cư của đồng bào có đạo được công nhận là gia đình văn hóa, làng xã văn hóa, khu dân cư an toàn

 Thực hiện tốt công tác tôn giáo là góp phần củng cố vững chắc khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng thành công Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân; phấn đấu thực hiện thành công sự' nghiệp đổi mới vì mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Phạm Đình Nguyện - Xí nghiệp Dịch vụ Điện lực Ninh Bình (NPSC)